Loading

[Nên đọc] Series bài về Tuyển sinh, tuyển dụng được chia sẻ bởi cựu sinh viên NEU

Thảo luận trong 'Hỏi đáp chung' bắt đầu bởi Elen, 24/3/13.

  1. Elen

    Elen Well-Known Member Cựu BQT

    Tham gia:
    14/3/11
    Bài viết:
    3,832
    Đã được thích:
    33
    Nơi ở:
    nơi có nắng....
    Đây là 1 bài viết hay từ 1 anh cựu sinh viên trường mình và hiện đang làm việc trong vấn đề tuyển dụng chia sẻ tới khóa sau, chị Trần Minh Hải bổ sung thêm về tỷ lệ:Thái độ, Kỹ năng và Kiến thức theo tỷ lệ 5/9, 3/9 và 1/9.
    Series bài viết về vấn đề tuyển dụng sẽ được update tại diễn đàn :) mong mọi người chú ý theo dõi.

    Facebook nguồn: https://www.facebook.com/nghiaht
    Tiêu đề: "chuẩn đầu ra" cho đào tạo đại học, cao đẳng. Tại sao cử nhân thất nghiệp nhiều thế?
    Nội dung bài viết:

    "Chuẩn đầu ra" là cụm từ được nhắc rất nhiều trên các diễn đàn giáo dục, các cuộc hội thảo từ TW đến các trường. Từ cấp TW đến từng người dân, đều có ý kiến tranh luận về "Chuẩn đầu ra" nhưng hình thù nó như thế nào? Vuông - tròn - méo ra sao thì không thấy ai mô tả.
    Tại sao cứ phải tranh luận để nâng cao "CHUẨN" khi chưa thống nhất "CHUẨN" là như thế nào?
    Chúng ta thử bàn về "Chuẩn đầu ra" cho bậc đại học/cao đẳng

    Giả sử tạm xác định mục đích của giáo dục - đào tạo là: Dạy để làm người, Dạy để làm nghề. (Xin bàn ở một bài viết khác). Thì mục đích chính của bậc đào tạo sau PTTH là Dạy để làm nghề. Vậy thì chuẩn đầu ra của bậc học này hẳn phải là làm được "nghề". Chỉ cần làm được thôi chứ chưa cần "lành nghề", bởi lẽ để lành nghề thì cần có thêm nhiều thời gian làm thực tế hơn mấy năm học. Đấy cũng chính là "Chuẩn đầu ra" mang tính định hướng thị trường lao động cao nhất, giúp cho sinh viên tốt nghiệp dễ dàng có việc làm.

    Để chọn người làm được việc, có "nghề", những người làm tuyển dụng nhân sự thường sử dụng mô hình đánh giá A.S.K (Adtitude - Skills - Knowledge)


    [​IMG]
    Mô hình đánh giá tuyển dụng A.S.K

    Nếu xét theo mô hình này, phần lớn chương trình đào tạo của các chuyên ngành, các khoa tại các trường ĐH, Cao đẳng mới chỉ đáp ứng được 1/3 tiêu chí đánh giá của thị trường. Đó là KIẾN THỨC.
    Thế tiêu chí Kỹ năng thì thế nào? Nhiều trường cũng đã đưa Kỹ năng mềm, Kỹ năng sống vào chương trình rồi đấy thôi!? Tôi cho rằng có sự nhầm lẫn nhất định ở khái niệm kỹ năng trong mô hình A.S.K và khái niệm Kỹ năng mềm mà các trường ĐH/CĐ đang nói đến.
    Để làm tốt công việc, người lao động cần có 2 loại kỹ năng:
    - Kỹ năng nghề nghiệp: Là kỹ năng cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ công việc xét trên phạm vị hẹp cá nhân. Ví dụ như lái xe phải có kỹ năng lái, người bán hàng phải có kỹ năng phân loại và lựa chọn khách hàng tiềm năng. Kỹ năng này ở mỗi nghề là rất khác nhau.
    - Kỹ năng mềm: Là kỹ năng để tương tác với những người khác trong đơn vị nhằm mục đích hoàn thành nhiệm vụ của cá nhân và mục tiêu của tổ chức một cách tốt nhất. Ví dụ như: kỹ năng giao tiếp, thuyết trinh; kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng sử dụng máy tính... Những kỹ năng này khá chung ở hầu hết các nghề, các công việc. Dù mức độ yêu cầu từng kỹ năng cụ thể là khác nhau.

    Kỹ năng là phần đang rất thiếu và yếu của các bạn tân cử nhân, thậm chí là đã có 1-3 năm kinh nghiệm. Điều này là do cả người dạy và người học chưa xác định mình cần dạy/học kỹ năng gì? Và điều quan trọng hơn là dạy/học kỹ năng như thế nào? Ở nhiều lớp học kỹ năng, sinh viên vẫn được học kỹ năng qua slide hoặc bài giảng nhận thức. Đây là phương pháp sai lầm trong việc phát triển kỹ năng. Vì kỹ năng là thực hành chứ không phải là ghi nhớ lý thuyết.
    Thái độ có phải là vấn đề không? Chắc chắn có
    Theo khảo sát của VinaTest, một đơn vị trực thuộc EduViet, mức lương mà sinh viên kỳ vọng khi làm một công việc cao hơn thực tế bình quân của mức lương trên thị trường từ 30%-50%. Điều đó chứng tỏ sinh viên không nhận thức được đúng năng lực của mình so với nhu cầu của thị trường, và cũng không đánh giá đúng tình hình thị trường lao động.
    Có đến trên 80% sinh viên tham gia các buổi phỏng vấn tuyển dụng trả lời: "Em muốn thử sức mình ở công việc này. Em nghĩ em có quyết tâm nên em sẽ làm được". Và phần lớn sinh viên chuyển việc trong vòng 1 năm làm việc đầu tiên vì lý do muốn thử nghiệm và trải nghiệm thêm. Chính điều này tạo nhận thức không yên tâm của đội ngũ quản lý doanh nghiệp trong việc tuyển tân sinh viên.
    Có nhiều ý kiến cho rằng, sinh viên, các bạn trẻ có thái độ sống rất tốt, luôn có hoài bão và ước mơ lớn.
    Nhưng Thái độ trong mô hình này không phải là hoài bão, ý chí, lòng quyết tâm thể hiện qua những sự hô hào khẩu hiệu. Cũng không phải là lời cam kết đam mê hoặc một sự tự kỷ ám thị nào đó.
    Thái độ bắt nguồn từ nhận thức của bản thân về chính mình và môi trường để từ đó quyết định cách nghĩ, cách đối xử của mình với công việc, với cuộc sống.
    Chính vì nội dung đào tạo theo ngành nghiên cứu, chứ ít có chương trình đào tạo theo "chuẩn nghề" đầu ra, nên hầu hết sinh viên không xác định được "nghề" mình sẽ chọn trong tương lai. Từ đó, kéo theo các hậu quả được các nhà tuyển dụng đánh giá là "Thái độ không phù hợp với vị trí tuyển dụng":

    1. Không hiểu về công việc mình ứng tuyển. Bạn có xác định chọn "nghề" từ trước đâu, chỉ khi tìm kiếm thông tin tuyển dụng, thấy hay hay thì "thử sức mình".
    2. Trả lời phỏng vấn: "Em muốn thử sức mình". Doanh nghiệp là nơi người ta chi tiền ra để tìm người làm được việc và biết chắc mình làm được việc, chứ không tuyển chọn người đang còn chưa biết mình có làm được hay không? Và vẫn đang trong quá trình "thử sức".
    3. Ảo tưởng về năng lực, trình độ, kiến thức của mình. Cho rằng mình đủ khả năng làm quản lý, định hướng chiến lược doanh nghiệp .... (chủ yếu là sinh viên học quản trị kinh doanh mắc chứng này).
    4. Không chuẩn bị kiến thức và kỹ năng nền tảng cho công việc ứng tuyển. Sinh viên hiện nay có xu hướng học để lấy điểm, học để trả bài và có bằng tốt nghiệp chứ không xác định rõ học để làm việc, và làm việc gì. Do đó, có rất nhiều sinh viên khi được hỏi đến kiến thức nền tảng chuyên ngành học cũng không nắm được.
    5. Với một số bạn trẻ có 1-3 năm kinh nghiệm, thậm chí còn nhiều hơn thì cũng không có kiến thức và kỹ năng cho vị trí ứng tuyển. Các bạn hay ỷ vào kinh nghiệm nhưng thực tế, các nhà tuyển dụng không thích các ứng viên nhảy việc. Đặc biệt là nhảy qua các công việc khác nhau, các ngành khác nhau. Điều này chứng tỏ, ứng viên không có định hướng, chưa lựa chọn được mục tiêu.
    Vậy làm thế nào để được đánh giá là có Thái độ phù hợp?
    1. Biết càng chi tiết càng tốt về công việc của vị trí đang ứng tuyển, có kỹ năng để thực hiện được phần lớn công việc trong số đó, và có kiến thức mà công việc yêu cầu
    2. Có ý thức theo đuổi nghề nghiệp lâu dài. Điều này thể hiện ở sự chuẩn bị kiến thức và kỹ năng trong quá khứ và mục tiêu định hướng tương lai
    3. Hiểu biết về doanh nghiệp đang ứng tuyển: sản phẩm, thị trường, thương hiệu, đối thủ cạnh tranh, văn hóa, chính sách nhân lực, lịch sử hình thành ...
    4. Nhận thức đúng đắn về giá trị của bản thân: kiến thức, kỹ năng, thái độ, đạo đức nghề nghiệp ... Quá tự tin hay quá tự ti đều không tốt

    Nếu được chuẩn bị "chuẩn đầu ra A.S.K" theo nghề lựa chọn, khả năng thất nghiệp sẽ giảm đi đáng kể. Ngay cả trong giai đoạn khủng hoảng này.
    Bởi lẽ, trong khủng hoảng, doanh nghiệp cẩn trọng hơn trong việc tuyển người. Họ cho rằng, thà đứng yên hoặc giảm quy mô còn hơn chấp nhận rủi ro để tăng trưởng. Do đó, doanh nghiệp chủ trương chỉ tuyển người làm được việc ngay, đúng việc doanh nghiệp cần chứ không đầu tư để đào tạo lại.
    Cuối cùng, mỗi chúng ta cần hiểu và nhớ rằng khủng hoảng kinh tế có một phần nguyên nhân do chất lượng nhân lực kém, hiệu suất lao động thấp. Khủng hoảng có phần lỗi của mỗi chúng ta về trách nhiệm học tập và nâng cao chất lượng làm việc.
  2. Elen

    Elen Well-Known Member Cựu BQT

    Tham gia:
    14/3/11
    Bài viết:
    3,832
    Đã được thích:
    33
    Nơi ở:
    nơi có nắng....
    Thái độ lao động chưa tốt! Ai đánh giá? Ai cần điều chỉnh?

    Tiếp tục series bài viết về Tuyển Dụng của anh Hoàng Trọng Nghĩa. Hi vọng sẽ sẽ có ích cho mọi người :)
    --------------

    Tiếp tục tập bài viết về giáo dục - lao động - việc làm, trong bài này tôi trao đổi thêm về Thái độ lao động sau khi nhận phản hồi của các anh chị, các bạn ở bài viết "A.S.K - Tại sao "Thái độ" của người lao động Việt Nam chưa tốt?". Đặc biệt là phản hồi của chị Thanh Ha Phoenix.
    Đây cũng có thể là góc nhìn khác về vấn đề Thái độ lao động của người Việt trẻ chúng ta

    Nói đến Thái độ giữa người lao động và doanh nghiệp, đấy luôn là mối quan hệ 2 chiều. Mà mỗi khi xảy ra vấn đề, người quản lý và người lao động đều có xu hướng không nhận lỗi về mình.
    Cho dù là lỗi của ai thì thực tế đang có sự lệch pha giữa kỳ vọng của người sử dụng lao động và thái độ của người lao động. Sự lệch pha đấy ở chính ở Tiêu chuẩn mà người lao động (sinh viên) hướng đến và Tiêu chuẩn mà người sử dụng lao động (doanh nghiệp) kỳ vọng. Tại sao có sự lệch pha đó? Tham khảo thêm "Chuẩn đầu ra" cho đào tạo đại học, cao đẳng. Tại sao cử nhân thất nghiệp nhiều thế?

    [​IMG]


    Có 2 lực tác động quyết định đến Thái độ lao động: Ngoại cảnh môi trường và Ý chí nội tâm. Trong đó vấn đề về Ý chí nội tâm, với tôi, khá phức tạp và không thể bàn trong này. Tôi chỉ phân tích các yếu tố ngoại cảnh đang tác động đến Thái độ lao động của chúng ta và cách nào để ta điều chỉnh Thái độ hướng đến cuộc sống và công việc thành công hơn.


    1. Không phân biệt rõ khái niệm "Ngành" và "Nghề"


    Trong nhiều tài liệu của Việt Nam tôi đã nghiên cứu, không có được sự phân biệt rõ ràng về nghành và nghề. Ngay trong hệ thống phân khoa trong các trường đại học cũng chỉ thấy "Ngành học" chứ không thấy "Nghề", trừ cách phân khoa ở các trường dạy nghề.
    Nhưng nếu so với chuẩn phân loại nghề quốc tế, thì nhiều ngành học trong các trường đại học được phân loại như là một nghề. Ví dụ như: Nhân sự, Kế toán, Kiểm toán.
    Một số ngành khó xác định được Chuẩn đầu ra là nghề gì như: Quản trị kinh doanh (quá tổng hợp vì Quản trị kinh doanh là một nhóm các nghề), Ngân hàng (Ngành kinh tế chứ không phải là nghề), Công nghệ thông tin (Ngành kinh tế) ....

    [​IMG]


    Từ sự phân loại đó, thật khó trách sinh viên là học không đến nơi đến chốn khi mục đích, mục tiêu học tập không thật sự rõ ràng. Có trách các em chỉ trách được sự thiếu chủ động, thiếu trách nhiệm tìm hiểu đến cùng để làm chủ cuộc sống của mình.
    Giải pháp cho vấn đề này là: Cần định nghĩa, phân biệt rõ ràng giữa NGÀNH và NGHỀ, và truyền thông điều này đến nhà trường (từ cấp 2) và xã hội.
    Tôi vắn tắt ở đây khái niệm cơ bản về Ngành và Nghề để các bạn (đặc biệt là các bạn sinh viên) chú ý và phân biệt.
    Ngành: được hiểu là một lĩnh vực hoạt động trong nền kinh tế (Economic sector). Ví dụ như: Ngành khai khoáng, Ngành ngân hàng, Ngành nông nghiệp, Ngành thương mại. Trong mỗi ngành có nhiều người làm việc với các nghề khác nhau như: Kế toán, quản trị nhân lực, quản lý, nghiên cứu khoa học, hành chính, ...
    Nghề: là tập hợp những công việc sử dụng cùng một nhóm kỹ năng giống nhau để đạt được kết quả tương tự nhau. Ví dụ như nghề kế toán là tập hợp những công việc ghi chép sổ sách các khoản thu chi và phân loại, tổng hợp cho ra các báo cáo kế toán phục vụ cho việc quản trị tổ chức, doanh nghiệp. Một nghề có thể làm ở nhiều Ngành kinh tế khác nhau.
    Như vậy, trong mỗi Ngành có nhiều Nghề và mỗi Nghề lại có cơ hội làm việc trong nhiều Ngành.
    Không có khái niệm Ngành lớn hơn Nghề, hay Nghề lớn hơn Ngành.
    Sự phân biệt Ngành và Nghề cũng đặc biệt hữu ích trong việc Hướng nghiệp và Quản lý phát triển sự nghiệp. Ở đấy, các bạn trẻ nên chọn Nghề trước, chọn Ngành sau. Cuối cùng mới chọn nơi làm việc. Lý giải cho trình tự Hướng nghiệp này sẽ được tôi viết trong một bài viết khác trong loạt bài viết này.


    2. Thiếu có Chuẩn về NGHỀ


    Như tôi đã viết trong bài viết "Chuẩn đầu ra" cho đào tạo đại học, cao đẳng. Tại sao cử nhân thất nghiệp nhiều thế? . Thực tế chúng ta có thể thấy: Không có Chuẩn nghề trong hầu hết các nghề đang tồn tại trong nền kinh tế/Thị trường lao động của chúng ta. Hãn hữu có một số nghề có chuẩn mực rõ ràng như Nghề kiểm toán.

    [​IMG]


    Giải thích nguyên nhân cho việc thiếu Chuẩn nghề thì có nhiều lý do. Tôi không bàn thêm nhưng với trách nhiệm của một tiếng nói xây dựng, tôi đề ra 5 phương án để xây dựng chuẩn nghề:
    - Nhà nước xây dựng hệ thống Chuẩn nghề dựa trên nghiên cứu thị trường lao động. Việc này nghe qua có vẻ là khả thi nhất. Tuy nhiên, với cơ chế nghiên cứu khoa học hiện tại, rất khó và rất lâu mới có thể có được Hệ thống chuẩn mà người dân kỳ vọng.
    - Nhà nước tạo cơ chế khuyến khích thành lập các Hiệp hội nghề nghiệp. Việc này cũng không đơn giản vì ngoài cơ chế nhà nước thì người chủ trì và ngân sách vận hành là vấn đề khó khăn. Bên cạnh đấy, nếu thành lập Hiệp hội với tên gọi là Hiệp hội nghề nhưng hoạt động không vì mục đích tiêu chuẩn hóa nghề nghiệp, thúc đẩy phát triển cộng đồng nhân lực hoạt động trong nghề thì không có ý nghĩa với giáo dục và thị trường lao động.
    - Các nhà tuyển dụng trong các nhóm nghề khác nhau tự tập hợp để xây dựng các Hiệp hội nghề. Từ đó xây dựng và quảng bá các tiêu chuẩn của nghề và tạo môi trường để những người trong môi trường đấy tương trợ lẫn nhau. Việc này cũng khó xảy ra do các nhà tuyển dụng vừa hợp tác nhưng lại vừa cạnh tranh nguồn nhân lực. Việc tập hợp để chia sẻ chỉ hạn chế trong một liên minh.
    - Các trường học xây dựng Chuẩn nghề nghiệp làm Chuẩn đầu ra cho mình. Việc này cũng không dễ xảy ra. Do trong cơ chế đại học đang cạnh tranh tuyển sinh như hiện tại, Chuẩn đầu ra là một vũ khí cạnh tranh. Không dễ dàng để có một cái bắt tay thống nhất.
    - Học sinh - Sinh viên tự thân vận động: các bạn tự tập hợp thông tin tuyển dụng ở những vị trí nhất định. Thống kê lại các mô tả chung, yêu cầu chung để tự xác định Chuẩn nghề nghiệp. Cách làm này chủ động nhất nhưng hiệu quả chưa chắc đã cao do các bạn học sinh, sinh viên chưa có chuyên môn về vấn đề này.

    Tóm lại, để có Hệ thống Chuẩn nghề nghiệp công bố rộng rãi và được chấp nhận không phải là ngày một ngày hai có thể có ngay. Nhưng từ nhu cầu bức xúc của xã hội và mỗi người lao động, từ lợi ích thiết thân của mỗi người, chúng ta đành phải tự vận động để xây Chuẩn nghề, lựa chọn con đường cho mình mà thôi.
    Độc lập, Tự chủ được vẫn là tốt nhất.


    3. Khủng hoảng Chuẩn "Giá trị" trong xã hội


    Ở đâu đó, một số Chuẩn nghề nghiệp cũng đã được công bố nhưng chưa được công nhận hoặc bị các Giá trị khác lấn át. Có thể kết luận rằng: Một số "Chuẩn giá trị xã hội" đã và đang lấn át Chuẩn nghề nghiệp.

    [​IMG]


    Nhiều, rất nhiều người trong xã hội chúng ta hiện tại cho rằng, giàu sang là thước đo chuẩn của thành công. Do đó, giới trẻ xác định mọi con đường đều được chấp nhận, miễn là đạt mục tiêu giàu sang. Trừ khi con đường đó dẫn vào nhà tù (một cách rõ ràng như buôn ma túy, cướp của), còn lại nếu chưa biết là phạm pháp thì vẫn hướng đến và làm nhiệt tình (vụ Muaban24 là điển hình).
    Nhiều người thành công, rất thành công không dựa trên nghề nghiệp gì cụ thể, không rõ ràng họ làm gì và làm như thế nào. Chỉ biết là họ giàu có và được giới truyền thông hoặc được xã hội trọng vọng. Cái hiện rõ nhất trong thành công của họ là Mối quan hệ với người có quyền lực xã hội, với đại gia và một phần với quan chức nhà nước. Từ đó hình thành một Chuẩn xã hội về điều kiện để thành đạt là Nhất thân, Nhì tiền, Tam quyền, Tứ chế. Cái "Chuẩn" này dẫn đến cái "Chuẩn" khác, được xem như điều kiện để dẫn đến "Tam quyền, Tứ chế" là "Chuẩn Bằng cấp". Để tiếp cận được với "Quyền" và "Cơ chế", điều kiện đủ là "Thân" và "Tiền" thì điều kiện cần là "Bằng". Bằng trường gì cũng được miễn là Bằng đại học. Từ đó sinh ra việc bằng cấp là một chuẩn cần để thành đạt (Bằng chứ không phải kiến thức). Hệ quả của nó là tệ mua bán bằng cấp (xin được bàn ở bài viết khác).
    Những cái chuẩn lệch lạc, không bền vững nhưng rất thực tế nêu trên làm cho Chuẩn nghề nghiệp bị lu mờ. Vì chúng ta thường chỉ nghĩ đơn giản: Học để thành đạt. Mà xã hội hiểu giàu có là thành đạt thì Học để giàu có. Chính suy nghĩ đó dành chỗ cho các Chuẩn "giá trị" lũng đoạn tư duy, lát át Chuẩn nghề nghiệp.


    4. Lệch pha giữa "Giáo dục" và "Nhu cầu Nhà tuyển dụng"
    Trong một buổi tọa đàm về Nghề Marketing, tôi nói với sinh viên chuyên ngành Marketing (dùng đúng từ ngữ được sử dụng hệ thống giáo dục của chúng ta): "Các bạn đang đánh mất cơ hội ngay trên sân nhà trong nhóm công việc online marketing. Các bạn sinh viên ngành công nghệ thông tin đang chiếm chỗ của các bạn". Ngay lập tức tôi nhận được phản hồi của khách mời cùng tham gia tọa đàm - anh là giảng viên Khoa marketing của trường đại học hàng đầu Việt Nam về Kinh tế và Kinh doanh (tôi xin không nêu tên) - anh nói rằng: "Khoa chúng tôi đào tạo sinh viên ra để làm quản trị marketing chứ không làm công việc cụ thể như thế!". Cuộc tọa đàm được dẫn sang hướng khác.

    [​IMG]

    Câu chuyện trên của tôi cũng là câu chuyện mà các nhà tuyển dụng thường xuyên gặp phải. Sinh viên cho rằng mình học để quản lý, học để hoạch định chiến lược, học để ... làm gì cũng được nhưng đa số là không đáp ứng nhu cầu của nhà tuyển dụng. Mà giả sử, các bạn ấy có năng lực và trách nhiệm đủ để hoạch định chiến lược, để quản lý thì cũng hiếm có nhà tuyển dụng hoặc chủ doanh nghiệp nào dám đặt vận mệnh của công ty, của đội ngũ lao động trong công ty cho một bạn trẻ mới ra trường hoặc chỉ có 1-2 năm kinh nghiệm.
    Rất ít người trong công ty được tin tưởng để làm quản lý và hoạch định, trong đó có nhiều người có kiến thức, bằng cấp như các bạn, nhiều kinh nghiệm hơn các bạn và trách nhiêm hơn các bạn trẻ (vì có tiền của người ta trong đấy), liệu các bạn có đủ sức cạnh tranh để thay thế người ta ngay khi ứng tuyển không. Câu trả lời chắc chắn là KHÔNG. Hãy xây nhà từ móng. Học bò rồi mới học chạy.
    Sự lệch pha trong Thái độ của người lao động có phần đến từ Nhà trường. Khi nào các thầy còn gieo vào đầu trò niềm tự hào nghề nghiệp, niềm tự hào "Khoa ta", "Trường ta" học để làm "sếp" ngay hoặc để làm Nhà khoa học thì sinh viên ra trường còn "ở trên mây". Điều các em nên học là:
    - Định hướng nghề nghiệp rõ ràng, có cơ sở khoa học (không phải căn cứ từ Đam mê như nhiều người lớn vẫn đang "cố vấn" cho các em. Vì Đam mê không đo được và dễ bị ngộ nhận khi còn trẻ)
    - Thiết lập mục tiêu rõ ràng, chia thành các chặng đường ngắn để đánh giá, điều chỉnh phù hợp
    - Kiên định phấn đấu đạt mục tiêu của từng chặng đã lập
    - Không vội vàng đốt cháy giai đoạn trừ khi có những sáng tạo kiệt xuất. Bạn nên biết những người được coi là thành công trên thế giới nhờ sáng tạo cũng phải thuê Giám đốc quản lý công ty của mình, thậm chí là quản lý chính mình cho đến khi họ thấy họ vững vàng. Điển hình là: Google, Apple.
    Xác định và làm được như thế, sự lệch pha sẽ được giảm bớt hoặc biến mất hoàn toàn. Điều này có lợi cho cả nhà tuyển dụng và người lao động.

    [​IMG]


    Bạn đã sẵn sàng để làm "Ông chủ"
    Tỷ lệ số người làm chủ doanh nghiệp hoặc cơ sở kinh doanh của mình chiếm chưa quá 10% dân số. Phần lớn các bạn sinh viên ra trường sẽ cần có việc làm. Để có việc làm thì cần Chinh phục được Nhà tuyển dụng (cán bộ nhân sự, cán bộ quản lý hoặc chủ doanh nghiệp). Trong các tiêu chí đánh giá của Nhà tuyển dụng, Thái độ đóng vai trò then chốt.
    Vậy "Ai là người đánh giá Thái độ của bạn?" - Nhà tuyển dụng
    "Ai là người cần điều chỉnh thái độ để có được việc làm?" - Người lao động. Đặc biệt trong bối cảnh thị trường lao động cạnh tranh, việc ít, người nhiều, và Nhà tuyển dụng có nhiều lựa chọn.

    Link nguồn: Link

    Bài tiếp theo: "Em đang học năm cuối đại học rồi. Em không biết nên chọn nghề gì?". A.S.K sẽ chỉ đường cho bạn như thế nào?
  3. Elen

    Elen Well-Known Member Cựu BQT

    Tham gia:
    14/3/11
    Bài viết:
    3,832
    Đã được thích:
    33
    Nơi ở:
    nơi có nắng....
    A.S.K - Tại sao "Thái độ" của người lao động Việt Nam chưa tốt?

    Kể ra bài này đăng trước bài viết trên vì nó được ra đời trước nhưng thôi mình viết về đằng sau vậy :))
    Vẫn tiếp tục từ series bài của anh Nghĩa:
    A.S.K - Tại sao "Thái độ" của người lao động Việt Nam chưa tốt?

    ----------------

    Tiếp nối loạt bài viết về giáo dục, như đã hẹn, tôi xin viết vài dòng lý giải về vấn đề nhân sự mà các nhà quản lý doanh nghiệp Việt Nam đang gặp phải: Thái độ không đúng đắn và thiếu tích cực của người lao động. Đặc biệt là lao động trẻ

    Như đã bàn trong bài viết "Chuẩn đầu ra" cho đào tạo đại học, cao đẳng. Tại sao cử nhân thất nghiệp nhiều thế?. "Thái độ" là một trong 3 thành tố quan trọng để quyết định khả năng thành công của mỗi người trong công việc. Để tránh những hiểu lầm đáng tiếc do chúng ta hiểu hàm ý từ "Thái độ" khác nhau, trước tiên tôi xin định nghĩa "Thái độ" được hiểu trong bài viết này.
    1. Thái độ với bản thân: Là đánh giá của bản thân người lao động về mình. Đánh giá về năng lực, tính cách, khả năng làm việc, mục tiêu cuộc sống, ...
    2. Thái độ với nghề: Hiểu biết nghề nghiệp, đánh giá sự phù hợp giữa cá nhân với nghề nghiệp, tính cam kết với nghề, xây dựng lộ trình phát triển sự nghiệp,
    3. Thái độ với doanh nghiệp: Lòng trung thành, cam kết gắn bó, tư duy cùng thắng, trung thực

    Với tinh thần xây dựng, chúng ta sẽ cùng phân tích từng vấn đề và đề ra phương hướng giải quyết.

    [​IMG]

    1. Thái độ với bản thân


    Một trong những vấn đề mà các nhà tuyển dụng đau đầu và thất vọng là khả năng tự nhận thức về bản thân của phần nhiều ứng viên, đặc biệt là ứng viên mới tốt nghiệp là khá lệch. Các bạn thường có xu hướng tự tin thái quá, cho rằng mình có thể làm được nhiều việc, đặc biệt là sinh viên khối ngành kinh tế, quản trị. Còn đối với sinh viên đại học các ngành kỹ thuật khác, các bạn cũng có xu hướng đánh giá khả năng một cách cảm tính, chung chung và hơi quá với khả năng thực sự của mình.
    Phần lớn các bạn không có mục tiêu rõ ràng. Chủ yếu là mục tiêu theo kiểu "càng nhiều càng tốt, càng cao càng tốt", "Học hỏi để có thêm kinh nghiệm" ...
    Tại sao lại như thế?
    - Đầu tiên là lỗi của giáo dục. Giáo dục không làm cho người học hiểu rằng "học để làm việc" mà làm người học hiểu là học để "lấy bằng cấp" nên các bạn thường cho bằng cấp nghĩa là năng lực. Nhưng sự thật đáng tiếc là với phương pháp đào tạo nặng về lý thuyết như chúng ta, bằng cấp không đồng nghĩa với năng lực làm việc. Đấy là chưa kể đến việc mua bằng, mua điểm.
    - Đổ hết cho giáo dục thì chưa đúng. Bởi lẽ, sản phẩm của giáo dục là con người. Mà con người thì có quyền tự quyết định riêng nên mỗi sản phẩm của nền giáo dục có 3 phần do thầy còn 7 phần do trò. Nhưng trò của chúng ta khá bị động, thích dựa dẫm, lười suy nghĩ, thích "la cà chém gió". Sẽ không quá ngạc nhiên nếu trong giờ hành chính, mật độ các bạn trẻ ngồi quán cà phê, trà chanh còn đông hơn thư viện. Nguyên nhân này lại là hệ quả của nguyên nhân tôi trình bày tiếp theo đây
    - Truyền thông xã hội:
    + Có quá nhiều tấm gương trẻ thành công được vinh danh không phải do lao động mà ra. Hoặc nếu do laođộng mà có thì cách vinh danh cũng không chỉ rõ được những sự nỗ lực, gắng công thực sự của người thànhcông đấy.
    + Quá đề cao mối quan hệ trong việc giải thích "làm thế nào để thành công" nên nhiều người tập trung phát triển mối quan hệ chứ không tập trung trau dồi kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp. Hơn nữa những tấmgương thành công ở Việt Nam phần nhiều là thành công do có mối quan hệ tốt với quan chức và đại gia
    + Nói quá nhiều vào sự trợ giúp và cứu trợ. Cứ như mỗi khi nhận được cứu trợ và trợ giúp là một sự thành công. Ví dụ như: xin được vốn ODA, được Chính phủ tung ra gói cứu trợ, ...
    Từ những nguyên nhân trên, người lao động không tập trung phát triển kỹ năng, kiến thức mà sa vào các sự hào nhoáng về bằng cấp, mối quan hệ, tiền bạc, danh vọng và không hiểu:
    "Chỉ có sự phát triển tự nội lực của bản thân mới là sự phát triển bền vững nhất!"

    [​IMG]

    2. Thái độ với nghề


    Gần như 100% sinh viên mới ra trường khi trả lời phỏng vấn "Tại sao em lại ứng tuyển vị trí này?" đều có câu trả lời có ý là: Em muốn thử sức mình. Em tin là em làm được.
    Có rất ít các bạn thực sự quyết định lựa chọn và theo đuổi 1 nghề cụ thể. Tại sao?
    - Hệ thống giáo dục coi dạy nghề là "đẳng cấp thấp" (Hình như là thế!?) nên phân loại trường ĐH, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp và Trung cấp nghề. À thế ra học Trung cấp nghề thì mới đi làm nghề, còn học các trường khác thì làm gì? Ai cũng phải có "một cái nghề" để sống và để lương thiện. Không có nghề thì sẽ sinh ra chụp giật, lừa lọc để sống.
    - Hệ thống đào tạo theo phân ngành chứ không theo phân nghề. Điều đó dẫn đến việc học xong vẫn không biết làm nghề gì? Nhận thức về ngành và nghề không rõ ràng trong tư duy của nhiều người. Ví dụ như: Ngành ngân hàng học xong làm gì? Câu trả lời thường thấy là để làm trong Ngân hàng. Nhưng trong ngân hàng có hàng trăm nghề từ giao dịch, hành chính, nhân sự, marketing, phân tích tài chính, kế toán ... Cách phân khoa như thế hỏi tại sao sinh viên không mông lung trong việc lựa chọn nghề nghiệp.
    - Tư tưởng phó mặc cho số phận. Nghề chọn mình chứ mình không chọn nghề. Cách nghĩ này không phải sai hoàn toàn nhưng ... CON NGƯỜI khác cái cây ở chỗ họ có thể và có quyền lựa chọn chỗ đứng. Nghề nghiệp là một quyết định lựa chọn của mỗi người.
    Từ sai sót của hệ thống giáo dục trong việc định nghĩa "Ngành - Nghề" đến việc phân khoa, phân ngành không định hướng thị trường lao động, dẫn đến nhận thức sai lầm của người lao động với "nghề". Không biết cách chọn nghề như thế nào? Muốn thử nhiều nghề để lựa chọn, không trung thành với nghề nghiệp nào. --> Không có chuyên môn sâu, cái gì cũng có khả năng biết một ít nhưng khó trở thành chuyên gia thực sự.

    Thái độ này cản trở người lao động trong việc tìm kiếm việc làm. Đồng thời cũng làm tăng chi phí nhân sự của doanh nghiệp trong việc tuyển dụng, đào tạo nhân lực. Ước tính để có 1 nhân sự có chuyên môn tốt, doanh nghiệp tốn khoảng 50 triệu đồng (Con số này sẽ được phân tích cho ai quan tâm và gửi tin vào inbox của tôi)

    [​IMG]

    3. Thái độ với doanh nghiệp


    Từ thái độ với Nghề, dẫn đến điều gần như chắc chắn người lao động coi doanh nghiệp là chỗ trú chân tạm thời, để thử xem có hợp không và sẵn sàng ra đi bất kỳ lúc nào vì những lý do rất "trời ơi".
    Khái niệm "Trung thành" với doanh nghiệp là điều xa sỉ với phần nhiều người lao động ở ta. Lý do không phải hoàn toàn ở người lao động, mà các cấp quản lý, điều hành cũng như luật quy định cũng tạo hành lang tốt để sự "bay nhảy" phát triển.
    Một lý do khác mà các doanh nghiệp khá thường xuyên gặp phải là mâu thuẫn về lợi ích giữa chủ doanh nghiệp/nhà quản lý với người lao động không được giải quyết. Nguyên nhân chính là khả năng đối thoại để xử lý mâu thuẫn kém. Không dám nói thẳng mong muốn của mình mà chỉ ngấm ngầm bực tức, bức xúc và xin nghỉ. Khi đã mở lời xin nghỉ thì mối quan hệ giữa nhà quản lý và người lao động đã tổn thương. Người quản lý cũng không muốn nhún mình giữ lại vì sợ tạo tiền lệ cho nhân viên xin nghỉ gây sức ép. Còn nhân viên thì cũng khó rút lại đơn xin nghỉ khi đã chuyển đến nhân sự và quản lý
    Nhưng tất cả lý do đấy đều không đáng lo bằng tâm lý "Chân ngoài dài hơn chân trong". Không hiểu từ đâu, rất nhiều người lao động, đặc biệt là lao động trí óc có tâm lý tìm một chỗ làm ổn định, có lương ổn định. Sau đó tranh thủ làm thêm, kiếm thêm ở ngoài mà không toàn tâm, toàn ý với doanh nghiệp. Dĩ nhiên khi làm thêm ở ngoài, thì người lao động sẽ giấu diếm quản lý. Những điều này tạo nên sự nghị kỵ, thiếu tin tưởng lẫn nhau. Công ty trở thành chốn nương thân tạm bợ.
    Lý do đó kìm hãm sự phát triển của nhiều, rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam có tiềm năng.

    Thay lời kết:
    Thái độ là một khái niệm trìu tượng và có tính cảm tính. Chính vì thế, để đánh giá và điều chỉnh nó là việc rất khó khăn. Hơn nữa, trong mối quan hệ giữa 2 cá thể/tập thể thì "Thái độ" không thể do một bên quyết định. Bởi thế, trong mỗi tình huống, mỗi doanh nghiệp, mỗi người sẽ có cách giải quyết riêng.
    Ở bình diện rộng hơn của xã hội, của nền giáo dục, điều chúng ta cần làm là giúp cho các bạn trẻ:
    1. Có định hướng và lựa chọn nghề từ sớm và kiên định với sự lựa chọn có tính khoa học của mình.
    2. Dạy các bạn học sinh phải yêu lao động, có tinh thần trách nhiệm với bản thân. Tạo dựng giá trị thực sự của mình là tri thức, kỹ năng nghề nghiệp chứ không phải là mối quan hệ hay sự cứu trợ từ bên ngoài
    3. Dạy các trẻ tư duy và kỹ năng đối thoại. Chỉ có đối thoại mới giải quyết vấn đề. Giận dữ hay bức xúc không làm cho cuộc sống mỗi người tốt lên.

    Hoàng Trọng Nghĩa

    Link nguồn: Link
  4. Mar Xuân

    Mar Xuân New Member

    Tham gia:
    17/2/13
    Bài viết:
    2
    Đã được thích:
    0
    bài viết của a thật sự rất xác thực. đọc xong bài này của a e thấy có hiện thân cua mình trong đó.hok năm 2 n e rất mông lung về mọi việc. và a đã nói lên hết những thứ mà nhiều sv như e đang mắc phải, hay ảo tưởng và quá tự tin vào năng lực của mình.quá lạc quan vào tương lai vì thế mà sự ỷ lại là vô hạn. dù biết thế nhưng thực sự là sv thì ít ng sửa đổi và suy ngĩ tiến bộ, khoa hok dc a ak. đọc bài này e thấy mình còn thiếu xót quá nhiều. cảm ơn a vì bài viết rất thực tế và chân thực. hy vọng là bọn sv như e sẽ học hỏi dc và rút ra dc kinh nghiêm từ bài viết của a. thân
  5. vietbuzzad

    vietbuzzad New Member

    Tham gia:
    12/3/15
    Bài viết:
    1
    Đã được thích:
    0
    Giới tính:
    Nam
    Nơi ở:
    TP HCM
    Nên xác định chọn nghề từ trước, để dễ dàng đình hướng đúng đường đi của mình sau này.
  6. skyblue

    skyblue New Member

    Tham gia:
    16/8/15
    Bài viết:
    1
    Đã được thích:
    0
    Giới tính:
    Nam
    Nơi ở:
    new york
    bài viết của bạn đang là vấn đề nhức nhối của sinh viên hiện nay. theo mình để có được kinh nghiệm cho sau này, Các bạn hãy thể hiện kinh nghiệm, niềm đam mê và kết quả từ những việc mà các bạn từng làm khi đang ngồi trên ghế nhà trường, đó là những hoạt động xã hội, công việc làm thêm, hay tham gia một dự án học tập.

Chia sẻ trang này

Tự học Tiếng Anh mỗi ngày | Căn hộ The Gold View mặt tiền Bến Vân Đồn | Dự án Vinhomes Central Park của VinGroup | Mở bán tháp Gold River View | Bảo vệ | Viện dân số và các vấn đề xã hội | Game Bigone Online | sach luyen thi toeic | diễn đàn y khoa | diễn đàn sinh viên | cao đẳng y | trung cấp y dược | cao đẳng y dược hà nội | Cao đẳng Dược Hà Nội |